Gương Khóa Hồn - Chương 4
7.
Theo nội phủ hồ sơ ghi chép, Hoàng hậu họ Khuẩn của tiền triều từng có một chiếc gương đồng làm của hồi môn, được luyện từ thiên thạch, tên gọi “Trấn Hồn”, trên gương khắc bốn chữ “Kim Cổ Chiêu Minh.”
Sau khi tân triều lập quốc, chiếc gương này bị thu vào kho của Nội Vụ phủ, rồi tung tích không rõ.
Nghĩ lại, chiếc gương ta nhặt được, hẳn chính là nó.
Tương truyền rằng, nếu gặp được người hữu duyên, chiếc gương này có thể soi thấy tiền trần, cũng có thể nhìn thấu tương lai.
Nói cách khác—thứ ta nhìn thấy trong gương, chính là cái chết của ta trong tương lai?
Liệu có phải thật không?
Thật sự sẽ xảy ra sao?
Thái hậu nắm giữ triều chính, Hoàng đế nhu nhược vô năng, Lệ phi thì dã tâm bừng bừng.
Hoàng quyền, hậu quyền, nội đình, tông thân, ngoại thích, phiên vương, thế gia…
Các thế lực tranh đấu không ngừng, chém giết lẫn nhau, cuộc đấu trí chính trị đã đẩy đến đỉnh điểm.
Còn ta—cô độc đứng giữa cối xay quyền lực, trở thành vật hy sinh trong cuộc tranh đấu của họ, cũng không phải là chuyện không thể.
Nhớ đến ta trong gương, bị ép uống Hạnh Cơ, đau đớn mà chết.
Ta nghiến răng, quyết tâm một phen.
Tuyệt đối không thể ngồi chờ chết.
Trong đầu ta ngổn ngang trăm mối, lòng nóng như lửa đốt, suốt đêm không ngủ.
Sáng hôm sau, nhân lúc Thái hậu và Hoàng đế đều có mặt, ta bước lên, quỳ xuống, trịnh trọng nói:
“Thần thiếp tự xin phế bỏ ngôi Hoàng hậu, xuất cung tu hành.”
Mặt Hoàng đế lập tức đỏ bừng, còn Thái hậu thì khẽ thở dài một hơi thật sâu.
“Hoàng nhi, hậu cung của con đến chuyện trong nhà còn xử lý không xong, sao có thể khiến bổn cung yên tâm giao triều chính cho con được?”
“Phụ mẫu yêu con, ắt phải tính kế lâu dài cho nó. Hoàng hậu dung mạo, đức hạnh đều xuất chúng, là người ta ngàn chọn vạn chọn mới chọn ra. Vậy mà con không thích vầng trăng sáng trên cao, lại mê mẩn thứ nước bùn dơ bẩn kia.”
Những lời ấy không che giấu nổi sự ghét bỏ và khinh miệt.
Lệ phi lập tức hít mạnh một hơi, sắc mặt xanh mét.
Hoàng đế “bịch” một tiếng quỳ xuống đất.
Thái hậu lại thở dài:
“Thôi vậy. A Khương, chỉ cần ta còn sống, ngôi vị Hoàng hậu này không ai động được.
Nếu con buồn bực muốn xuất cung, thì đến Thanh Yêu quán ở Đông Giao, ở đó một thời gian tĩnh tâm giải sầu đi.”
“Thần thiếp tuân chỉ.”
Ta dập đầu ba cái, bái biệt Thái hậu, trong lòng không chút lưu luyến, rồi xoay người rời đi.
8.
Thanh Yêu quán là do Thái hoàng thái hậu hạ lệnh xây dựng.
Bản triều từ trước đến nay vẫn có tập tục phi tần tuẫn táng. Mỗi khi Hoàng đế băng hà, những phi tần bị chỉ định tuẫn táng sẽ bị dẫn đến nơi đặt linh cữu.
Trong điện đã chuẩn bị sẵn những chiếc giường gỗ nhỏ và dải lụa trắng.
Thái giám sẽ đỡ họ đứng lên giường, cho lụa trắng quấn quanh cổ, rồi rút chiếc giường bên dưới—
Cứ thế treo cổ đến chết.
Gia quyến của những phi tần tuẫn táng sẽ được ban tiền trợ cấp và vinh danh, có khi còn được phong tước hoặc thế tập chức Thiên hộ.
Bởi vậy, tuẫn táng bị xem như một ân điển và vinh quang.
Nhưng chưa từng có ai hỏi—những người phụ nữ phải chết theo ấy, rốt cuộc có muốn chết hay không.
Năm ấy, khi Thái hoàng thái hậu lo tang lễ cho Hoàng tổ phụ, nghe tiếng các phi tần sắp phải tuẫn táng khóc đến rung trời, bà thực sự không đành lòng.
Hoàng tổ phụ mê tu tiên, trong số những phi tần phải tuẫn táng kia, có người thậm chí còn chưa từng được sủng hạnh.
Ở nơi thâm cung này, cô quạnh suốt bao năm, đánh đổi tự do, đến cuối cùng còn phải đánh đổi cả mạng sống.
Thái hoàng thái hậu cho rằng chế độ tuẫn táng quá tàn nhẫn và vô lý.
Nhưng triều thần viện dẫn tổ huấn lễ pháp, nói rằng:
“Thiên tử băng, hậu cung phải theo.”
Kiên quyết không chịu bãi bỏ.
Hai bên tranh luận mãi không dứt, cuối cùng mỗi bên nhượng một bước.
Số người tuẫn táng được giảm bớt—từ hơn bốn mươi người, giảm xuống chỉ còn vài người.
Những phi tần và cung nhân còn lại sẽ được đưa đến đạo quán hoàng gia, để lại tóc tu hành, thay hoàng thất cầu phúc.
Đó chính là nguồn gốc của Thanh Yêu quán.
Những người sống trong đó, phần lớn là phi tần và cung nhân xuất cung từ hoàng cung.
Ta vốn tưởng đây sẽ là một nơi lạnh lẽo, cô quạnh.
Nhưng khi đến nơi mới phát hiện—
Thanh Yêu quán tựa núi kề sông, cây hoa rậm rạp, phong cảnh thanh nhã tĩnh lặng.
Trên núi có suối nước nóng, ao hồ, vườn thú.
Bên ngoài đạo quán còn có con đường rộng dẫn xuống núi, dưới núi là trang trại và chợ búa.
Thật sự thoải mái hơn Tử Cấm Thành bốn bức tường vuông vức kia quá nhiều— nơi ấy chẳng khác gì một nhà lao khổng lồ.
Người quản sự hiện nay của Thanh Yêu quán đạo hiệu là Giáng Chân cư sĩ, trước kia từng là phi tần của Hoàng tổ phụ.
Bà xuất thân Lý gia ở Lũng Tây, vốn là tài nữ nổi danh.
Những năm gần đây, bà còn xây dựng một nữ học đường trên sườn núi của đạo quán.
Trường không thu học phí, còn cung cấp giấy bút miễn phí, mỗi ngày cho một bữa ăn, lại phát tiền thưởng theo thành tích thi cử.
Bà cười nói với ta:
“Nương nương, đạo quán của chúng ta không có quy củ hà khắc gì, cũng không cần dậy sớm tụng khóa khổ tu. Nếu thấy buồn, cứ ra ngoài dạo chơi là được.”
Ta đáp:
“Vậy ta đi cùng người đến nữ học đường đi. Chữ của ta viết cũng tạm, vẽ tranh cũng từng học qua, lại từng theo phụ thân học chút nghề mộc, có thể làm vài món đồ chơi nhỏ cho bọn trẻ.”
Bà nghe vậy liền cười:
“Thế thì tốt quá rồi. Thư họa nhà họ Tạ song tuyệt, danh tiếng lừng lẫy thiên hạ,
đám trẻ này thật có phúc.”
Ta vội nói:
“Người là trưởng bối, đừng gọi ta là nương nương nữa. Ở đây không có Thái phi, cũng không có Hoàng hậu. Người cứ gọi ta là Lệnh Khương là được.”
Từ đó, ta mỗi ngày theo bà đến học đường, dạy các nữ học sinh đọc sách.
Hôm ấy, ta đang cùng Minh Vận ở sân sau học đường, bẻ những cành liễu non, định đan giỏ hoa và ống bút cho bọn trẻ.
Vừa quay người—
Ta bỗng nhìn thấy trên con đường núi bên cạnh, có ba người đang đi tới.
Ta lập tức “a” lên một tiếng, những cành liễu trong tay rơi lả tả xuống đất.
Người đi đầu một thân bạch y, môi son mỉm cười, dung mạo tựa Quan Âm.
“Thái… Thái hoàng thái hậu?”